Có những loại hình doanh nghiệp nào?
Điều 1 Luật Doanh nghiệp liệt kê 4 nhóm doanh nghiệp gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, Luật đồng thời quy định công ty trách nhiệm hữu hạn gồm công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Vì vậy, nếu tách theo từng mô hình pháp lý cụ thể, có thể trình bày thành 5 loại hình doanh nghiệp.
Cũng cần phân biệt loại hình doanh nghiệp với các cách phân loại khác. Doanh nghiệp nhà nước không phải một loại hình thứ sáu: doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần tùy tỷ lệ sở hữu. Doanh nghiệp xã hội cũng không phải một cấu trúc doanh nghiệp độc lập, mà là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí pháp luật về mục tiêu xã hội, môi trường và việc sử dụng lợi nhuận. Hộ kinh doanh không nằm trong danh sách doanh nghiệp tại Điều 1; quy định đăng ký kinh doanh hiện hành cũng quản lý thông tin doanh nghiệp và hộ kinh doanh thành các nhóm riêng.
Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành
Nếu tính theo từng mô hình cụ thể, 5 loại hình doanh nghiệp gồm:
|
Loại hình |
Chủ sở hữu/thành viên |
Trách nhiệm tài sản |
Tư cách pháp nhân |
Khả năng phát hành chứng khoán |
|
Công ty TNHH một thành viên |
1 tổ chức hoặc 1 cá nhân |
Hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ |
Có |
Không phát hành cổ phần, trừ để chuyển đổi; được phát hành trái phiếu theo luật |
|
Công ty TNHH hai thành viên trở lên |
2–50 thành viên |
Hữu hạn trong phạm vi vốn đã góp, trừ trường hợp luật quy định |
Có |
Không phát hành cổ phần, trừ để chuyển đổi; được phát hành trái phiếu theo luật |
|
Công ty cổ phần |
Tối thiểu 3 cổ đông, không giới hạn tối đa |
Hữu hạn trong phạm vi vốn đã góp |
Có |
Được phát hành cổ phần, trái phiếu và các chứng khoán khác của công ty |
|
Công ty hợp danh |
Ít nhất 2 thành viên hợp danh, có thể thêm thành viên góp vốn |
Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản; thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn |
Có |
Không được phát hành chứng khoán |
|
Doanh nghiệp tư nhân |
1 cá nhân |
Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản |
Không |
Không được phát hành chứng khoán |
Những khác biệt trên không chỉ mang tính tên gọi. Chúng quyết định phạm vi trách nhiệm của chủ sở hữu, mức độ tách biệt giữa tài sản doanh nghiệp và tài sản cá nhân, số người có thể cùng sở hữu doanh nghiệp cũng như công cụ doanh nghiệp được phép sử dụng để huy động vốn.

Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Cơ chế trách nhiệm hữu hạn là đặc điểm quan trọng của mô hình này. Về nguyên tắc, nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp không khiến chủ sở hữu phải dùng toàn bộ tài sản cá nhân để thanh toán như trường hợp doanh nghiệp tư nhân; trách nhiệm được giới hạn theo cơ chế vốn điều lệ mà pháp luật quy định.
Về huy động vốn, công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phần, ngoại trừ trường hợp phát hành để chuyển đổi thành công ty cổ phần. Công ty được quyền phát hành trái phiếu khi đáp ứng quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Điều này cho thấy mô hình TNHH một thành viên vẫn có khả năng huy động vốn nhưng không vận hành theo cơ chế chia vốn thành cổ phần như công ty cổ phần.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên phải có từ 2 đến 50 thành viên, là tổ chức hoặc cá nhân. Thành viên về nguyên tắc chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Một đặc điểm giúp phân biệt loại hình này với công ty cổ phần là phần vốn góp của thành viên không được tự do chuyển nhượng theo cơ chế giống cổ phần; việc chuyển nhượng phải tuân thủ các quy định riêng của Luật Doanh nghiệp. Đồng thời, số lượng thành viên bị giới hạn tối đa ở 50 người.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần, nhưng được phát hành trái phiếu theo điều kiện pháp luật. Vì thế, cơ cấu vốn của loại hình này dựa chủ yếu trên phần vốn góp của các thành viên và các hình thức huy động vốn mà luật cho phép, thay vì cơ chế cổ phần hóa vốn ngay từ đầu.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần có cấu trúc vốn khác rõ rệt: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân; công ty phải có ít nhất 3 cổ đông nhưng pháp luật không giới hạn số lượng cổ đông tối đa.
Cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp. Công ty có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cổ đông về nguyên tắc có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, nhưng Luật Doanh nghiệp vẫn quy định một số trường hợp hạn chế.
Điểm nổi bật về cơ chế vốn là công ty cổ phần được quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty. Chính cơ chế chia vốn thành cổ phần, không giới hạn số cổ đông tối đa và khả năng phát hành chứng khoán tạo ra khác biệt căn bản giữa công ty cổ phần với hai loại công ty TNHH.
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty và cùng kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân. Ngoài thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn là tổ chức hoặc cá nhân.
Điểm đặc thù nhất nằm ở trách nhiệm tài sản. Thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong phạm vi số vốn đã cam kết góp. Khi tài sản của công ty không đủ thanh toán nợ, thành viên hợp danh còn có nghĩa vụ liên đới thanh toán phần nợ còn lại theo quy định của luật.
Dù thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, bản thân công ty hợp danh vẫn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Như vậy, không nên đồng nhất khái niệm “có tư cách pháp nhân” với “chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn”. Công ty hợp danh là ví dụ rõ ràng: công ty có tư cách pháp nhân nhưng thành viên hợp danh vẫn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ. Chủ doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đây là cơ chế trách nhiệm vô hạn, khác căn bản với trách nhiệm hữu hạn của chủ sở hữu công ty TNHH và cổ đông công ty cổ phần.
Doanh nghiệp tư nhân hiện là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân. Đặc điểm này gắn với vị trí pháp lý đặc thù của chủ doanh nghiệp: chủ doanh nghiệp tư nhân là chủ thể chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản và là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Bản thân doanh nghiệp tư nhân cũng không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào và không được góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH hoặc công ty cổ phần.
Tóm lại, nếu phân loại theo các nhóm được Điều 1 Luật Doanh nghiệp nêu trực tiếp thì có 4 nhóm: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Nếu tách công ty TNHH thành hai mô hình pháp lý mà chính Luật Doanh nghiệp quy định, có 5 loại hình doanh nghiệp cụ thể: công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Để phân biệt 5 loại hình này, những tiêu chí có giá trị nhất là số lượng chủ sở hữu hoặc thành viên, phạm vi trách nhiệm tài sản, tư cách pháp nhân, cấu trúc vốn và quyền phát hành chứng khoán. Trong đó, công ty TNHH và công ty cổ phần vận hành chủ yếu theo cơ chế trách nhiệm hữu hạn; công ty hợp danh kết hợp trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh với trách nhiệm hữu hạn của thành viên góp vốn; còn chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.
