Đầu tư đúng cho tương lai

Khi nào người quản lý doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại?

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người quản lý doanh nghiệp phát sinh khi người quản lý vi phạm nghĩa vụ được giao và hành vi đó gây thiệt hại cho doanh nghiệp hoặc chủ thể có liên quan. Tùy loại hình doanh nghiệp, tính chất vi phạm và vai trò của từng người, trách nhiệm có thể là trách nhiệm cá nhân hoặc trách nhiệm liên đới, đồng thời có thể kèm nghĩa vụ hoàn trả lợi ích đã nhận hoặc đền bù lợi ích bị mất.
Người quản lý doanh nghiệp được trao quyền quyết định hoặc tổ chức thực hiện nhiều vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản và lợi ích của doanh nghiệp. Quyền quản lý đó đi kèm các nghĩa vụ về trung thực, cẩn trọng, trung thành, tuân thủ pháp luật, Điều lệ và các quyết định nội bộ thuộc thẩm quyền.
Khi nào người quản lý doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại?

Vì vậy, không phải cứ doanh nghiệp phát sinh thua lỗ thì người quản lý đương nhiên phải lấy tài sản cá nhân để bồi thường. Trách nhiệm bồi thường gắn với việc người quản lý vi phạm nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ quản trị thuộc phạm vi trách nhiệm của mình và từ hành vi đó phát sinh thiệt hại mà pháp luật quy định họ phải chịu trách nhiệm.

Luật Doanh nghiệp 2020 thể hiện nguyên tắc này khá rõ. Chẳng hạn, người đại diện theo pháp luật phải thực hiện quyền, nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành với lợi ích doanh nghiệp và phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm những trách nhiệm này. Đối với công ty cổ phần, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm trách nhiệm quản lý có thể phải đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.

Trách nhiệm bồi thường bắt nguồn từ nghĩa vụ của người quản lý

Điểm xuất phát để xác định trách nhiệm không phải là kết quả kinh doanh tốt hay xấu, mà là nghĩa vụ mà người quản lý phải thực hiện.

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, các chuẩn mực quản trị quan trọng được thể hiện xuyên suốt ở những quy định dành cho người đại diện theo pháp luật và người quản lý của từng loại hình công ty. Nội dung cốt lõi bao gồm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trung thực và cẩn trọng; trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lợi dụng chức vụ, thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh hoặc tài sản của doanh nghiệp để tư lợi; đồng thời thực hiện các nghĩa vụ công khai lợi ích liên quan theo quy định.

Điều này tạo ra ranh giới quan trọng giữa rủi ro kinh doanhvi phạm nghĩa vụ quản lý.

Một quyết định đầu tư được đưa ra đúng thẩm quyền, có căn cứ, vì lợi ích của công ty nhưng sau đó thất bại do biến động thị trường không đồng nghĩa với việc người quản lý tự động phải bồi thường. Ngược lại, nếu người quản lý lợi dụng quyền hạn để phục vụ lợi ích cá nhân, cố ý làm trái nghĩa vụ, không thực hiện nghĩa vụ được giao hoặc thực hiện trái Điều lệ và gây ra thiệt hại thì cơ sở xem xét trách nhiệm cá nhân trở nên rõ ràng hơn.

Do đó, khi đánh giá trách nhiệm cần xem xét cả hành vi của người quản lý, nghĩa vụ bị vi phạm và hậu quả phát sinh, thay vì chỉ nhìn vào con số thiệt hại cuối cùng.

Bồi thường thiệt hại của người quản lý doanh nghiệp phát sinh khi nào?

Khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Có thể nhận diện cơ chế phát sinh trách nhiệm qua chuỗi: nghĩa vụ quản lý → hành vi vi phạm → thiệt hại hoặc lợi ích bị xâm phạm → trách nhiệm của người vi phạm.

Trước hết phải xác định người đó có nghĩa vụ gì. Nghĩa vụ có thể phát sinh từ Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, nghị quyết hoặc quyết định hợp pháp của cơ quan quản trị và phạm vi quyền, nghĩa vụ được giao.

Tiếp theo là xác định có hành vi vi phạm hay không. Vi phạm không nhất thiết chỉ là thực hiện một hành động bị cấm. Việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời hoặc thực hiện trái với quyền và nghĩa vụ được giao cũng có thể trở thành căn cứ yêu cầu chịu trách nhiệm.

Cơ chế này được thể hiện rõ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Điều 72 Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép thành viên tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và người quản lý khác khi họ vi phạm trách nhiệm quản lý; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời, trái pháp luật, Điều lệ, nghị quyết hoặc quyết định của Hội đồng thành viên; hoặc thuộc trường hợp khác do pháp luật và Điều lệ quy định.

Đối với công ty cổ phần, Điều 165 quy định khi thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc hoặc người quản lý khác vi phạm các nghĩa vụ quản lý thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới, đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.

Như vậy, trách nhiệm của người quản lý không chỉ có một biểu hiện là “trả tiền bồi thường”. Tùy trường hợp, hậu quả pháp lý còn có thể bao gồm hoàn trả lợi ích đã nhận hoặc đền bù lợi ích mà công ty bị mất.

Những hành vi quản lý nào có thể dẫn đến trách nhiệm?

Một nhóm điển hình là không thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng và vì lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Đây là chuẩn mực quan trọng bởi người quản lý được giao quyền kiểm soát hoặc quyết định đối với nguồn lực không hoàn toàn thuộc sở hữu cá nhân của mình. Việc thực hiện quyền quản lý vì thế phải hướng tới lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong phạm vi trách nhiệm được giao.

Nhóm thứ hai là vi phạm nghĩa vụ trung thành. Luật Doanh nghiệp đặt ra yêu cầu người quản lý không được lạm dụng địa vị, chức vụ hoặc sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hay phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

Ví dụ, một cơ hội kinh doanh thuộc phạm vi hoạt động của công ty được người quản lý biết đến nhờ chức vụ của mình nhưng lại bị chuyển sang một doanh nghiệp có lợi ích riêng của người đó. Vấn đề pháp lý khi ấy không đơn thuần nằm ở việc công ty “không kiếm được tiền”, mà còn nằm ở khả năng người quản lý đã sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty cho lợi ích khác.

Nhóm thứ ba là không thực hiện hoặc thực hiện trái quyền và nghĩa vụ được giao. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đây là một trong những trường hợp pháp luật cho phép thành viên khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với người quản lý.

Nhóm thứ tư liên quan đến xung đột lợi ích và nghĩa vụ công khai thông tin. Người quản lý hoặc người đại diện theo pháp luật thuộc trường hợp luật quy định phải thông báo các lợi ích liên quan một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác. Việc che giấu quan hệ lợi ích có thể làm suy yếu cơ chế kiểm soát giao dịch và trở thành một yếu tố quan trọng khi đánh giá hành vi vi phạm nghĩa vụ quản trị.

Thiệt hại của doanh nghiệp không đồng nghĩa người quản lý luôn phải bồi thường

Đây là điểm dễ bị hiểu sai nhất.

Hoạt động kinh doanh vốn có rủi ro. Giá nguyên liệu có thể tăng, khách hàng có thể mất khả năng thanh toán, dự án có thể không đạt doanh thu dự kiến hoặc thị trường có thể thay đổi sau khi quyết định kinh doanh đã được đưa ra.

Nếu chỉ cần công ty chịu thiệt hại là người quản lý phải bồi thường thì gần như mọi quyết định kinh doanh thất bại đều có thể chuyển thành trách nhiệm tài sản cá nhân. Cách hiểu đó không phản ánh đúng cơ chế trách nhiệm quản lý trong Luật Doanh nghiệp.

Điểm cần kiểm tra trước tiên là người quản lý có vi phạm nghĩa vụ của mình hay không.

Điều 13 Luật Doanh nghiệp quy định người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm các trách nhiệm luật định. Tương tự, Điều 165 gắn hậu quả bồi thường của người quản lý công ty cổ phần với việc vi phạm các trách nhiệm quản lý được quy định tại khoản 1 của điều này.

Vì thế, một kết quả kinh doanh bất lợi và một hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lý là hai vấn đề phải được phân biệt. Thiệt hại là yếu tố quan trọng, nhưng việc chứng minh hành vi thuộc phạm vi trách nhiệm của người quản lý cũng có ý nghĩa quyết định.

Trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới khác nhau thế nào?

Không phải mọi trường hợp đều buộc tất cả người quản lý cùng chịu trách nhiệm.

Trách nhiệm cá nhân đặt nghĩa vụ lên chính người có hành vi vi phạm. Ví dụ, khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp quy định người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do mình vi phạm các trách nhiệm được quy định tại khoản 1.

Trách nhiệm liên đới có thể xuất hiện khi nhiều người cùng tham gia hoặc cùng chịu trách nhiệm đối với hành vi, quyết định gây thiệt hại theo căn cứ pháp luật tương ứng.

Trong công ty cổ phần, khoản 2 Điều 165 quy định người quản lý vi phạm nghĩa vụ có thể chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn quy định trường hợp nghị quyết hoặc quyết định của Hội đồng quản trị trái pháp luật, nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc Điều lệ và gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên tán thành thông qua phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân và đền bù thiệt hại; thành viên phản đối được miễn trừ trách nhiệm đối với quyết định đó.

Quy định này cho thấy việc xác định trách nhiệm phải đi đến từng người: ai có thẩm quyền, ai tham gia quyết định, ai tán thành, ai phản đối và hành vi cụ thể của họ có quan hệ như thế nào với thiệt hại.

Không nên mặc nhiên suy luận rằng chỉ cần một quyết định tập thể gây thiệt hại thì tất cả thành viên cơ quan quản lý đều chịu trách nhiệm như nhau.

Phạm vi bồi thường có thể bao gồm những gì?

Trong công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp thể hiện khá rõ ba hậu quả đối với người quản lý vi phạm nghĩa vụ:

·         Đền bù lợi ích bị mất

·         Trả lại lợi ích đã nhận

·         Bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba

Ba hậu quả này phản ánh ba vấn đề khác nhau.

Trả lại lợi ích đã nhận hướng đến việc loại bỏ lợi ích mà người quản lý có được từ hành vi vi phạm.

Đền bù lợi ích bị mất hướng đến phần lợi ích mà chủ thể có quyền đáng lẽ có thể nhận được nhưng bị mất do hành vi vi phạm thuộc trường hợp luật quy định.

Bồi thường thiệt hại hướng đến việc khắc phục tổn thất phát sinh.

Bởi vậy, khi xử lý một vụ việc thực tế, không nên chỉ đặt câu hỏi “thiệt hại bao nhiêu”. Cần đồng thời kiểm tra người quản lý có thu được lợi ích từ hành vi vi phạm hay không và doanh nghiệp có bị mất một lợi ích thuộc phạm vi được pháp luật bảo vệ hay không.

Ai có thể yêu cầu người quản lý chịu trách nhiệm?

Chủ thể có quyền yêu cầu phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp và căn cứ pháp lý cụ thể.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Điều 72 Luật Doanh nghiệp cho phép thành viên công ty tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với một số người quản lý khi có căn cứ luật định.

Đối với công ty cổ phần, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân hoặc trách nhiệm liên đới đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong các trường hợp quy định tại Điều 166. Các căn cứ bao gồm vi phạm trách nhiệm tại Điều 165; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời, trái pháp luật, Điều lệ hoặc nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; lạm dụng chức vụ và tài sản, thông tin, cơ hội kinh doanh để tư lợi; cùng các trường hợp khác theo pháp luật và Điều lệ.

Quyền khởi kiện này có ý nghĩa thực tế vì thiệt hại do người quản lý gây ra thường trực tiếp rơi vào tài sản của công ty. Cơ chế thành viên hoặc cổ đông nhân danh công ty khởi kiện giúp yêu cầu trách nhiệm ngay cả khi bản thân bộ máy quản lý không chủ động thực hiện yêu cầu đó.

Cần chứng minh những vấn đề nào khi yêu cầu bồi thường?

Một yêu cầu bồi thường có cơ sở không thể chỉ dừng ở nhận định rằng người quản lý “đã quản lý kém”.

Trước hết cần xác định tư cách và phạm vi nghĩa vụ của người bị yêu cầu chịu trách nhiệm. Người đó giữ chức danh gì, được giao quyền hạn nào, chịu sự điều chỉnh của quy định pháp luật, Điều lệ, nghị quyết hoặc quyết định nào?

Tiếp theo phải chỉ ra hành vi vi phạm cụ thể. Đó có thể là hành động trái nghĩa vụ hoặc việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hay không kịp thời nghĩa vụ được giao.

Sau đó cần xác định thiệt hại hoặc lợi ích bị xâm phạm. Con số yêu cầu bồi thường cần được gắn với chứng từ, giao dịch, tài sản, khoản chi, khoản thất thoát hoặc lợi ích cụ thể thay vì chỉ dựa trên một ước lượng chung.

Cuối cùng, cần làm rõ mối liên hệ giữa hành vi vi phạm và hậu quả được yêu cầu khắc phục. Đây là bước giúp phân biệt tổn thất bắt nguồn từ hành vi của người quản lý với tổn thất do thị trường, quyết định hợp pháp của chủ sở hữu, rủi ro thương mại hoặc nguyên nhân độc lập khác.

Về thực tiễn, các tài liệu như Điều lệ, quy chế phân quyền, nghị quyết và biên bản họp, hợp đồng, thư điện tử, chứng từ kế toán, hồ sơ giao dịch, tài liệu thể hiện xung đột lợi ích và tài liệu chứng minh thiệt hại thường có ý nghĩa trong việc tái dựng quá trình ra quyết định và xác định trách nhiệm.

Không phải mọi người quản lý đều chịu cùng một chế độ trách nhiệm

“Người quản lý doanh nghiệp” là phạm vi rộng và trách nhiệm cụ thể còn phụ thuộc loại hình doanh nghiệp, chức danh và quy định áp dụng.

Chẳng hạn, Luật Doanh nghiệp có quy định chung riêng đối với người đại diện theo pháp luật tại Điều 13; quy định về trách nhiệm của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên tại Điều 71 và cơ chế khởi kiện tại Điều 72; quy định trách nhiệm của các chức danh quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại Điều 83; và quy định riêng đối với người quản lý công ty cổ phần tại Điều 165, Điều 166.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp còn đặt ra các nghĩa vụ riêng cho Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên. Điều 97 yêu cầu những người này tuân thủ Điều lệ, quyết định của chủ sở hữu và pháp luật; thực hiện quyền, nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng; trung thành với lợi ích của công ty và Nhà nước, đồng thời quy định một số trường hợp phải chịu trách nhiệm cá nhân.

Do đó, trước khi kết luận một người phải bồi thường, cần xác định đúng loại hình doanh nghiệp chức danh quản lý nghĩa vụ cụ thể hành vi vi phạm hậu quả. Việc lấy một quy định dành cho công ty cổ phần để áp dụng nguyên trạng cho mọi doanh nghiệp có thể dẫn đến kết luận không chính xác.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người quản lý doanh nghiệp về bản chất là cơ chế buộc người được giao quyền quản lý phải chịu hậu quả khi họ vi phạm nghĩa vụ thuộc phạm vi trách nhiệm của mình và từ đó phát sinh thiệt hại hoặc lợi ích cần được hoàn trả, đền bù theo quy định.

Vì vậy, doanh nghiệp thua lỗ chưa đủ để kết luận người quản lý phải bồi thường. Muốn xác định trách nhiệm cần xem xét đúng chức danh, nghĩa vụ phải thực hiện, hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế và mối liên hệ giữa hành vi với hậu quả. Trong trường hợp nhiều người cùng tham gia một hành vi hoặc quyết định, còn phải phân định căn cứ chịu trách nhiệm cá nhân hay liên đới của từng người.


Hỏi đáp về bồi thường thiệt hại của người quản lý doanh nghiệp

Người quản lý làm công ty thua lỗ có đương nhiên phải bồi thường không?

Không. Thua lỗ có thể là kết quả của rủi ro kinh doanh. Trách nhiệm cá nhân cần được xem xét trên cơ sở nghĩa vụ của người quản lý và việc họ có vi phạm nghĩa vụ đó hay không. Luật Doanh nghiệp, chẳng hạn tại Điều 13 và Điều 165, gắn trách nhiệm đối với thiệt hại với hành vi vi phạm trách nhiệm luật định của người có liên quan.

Người quản lý có phải dùng tài sản cá nhân để chịu trách nhiệm không?

Có thể, nếu căn cứ pháp luật xác lập trách nhiệm cá nhân đối với người quản lý. Điều 13 Luật Doanh nghiệp quy định người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm các trách nhiệm tại khoản 1; Điều 165 cũng quy định trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đối với người quản lý công ty cổ phần khi vi phạm nghĩa vụ tương ứng.

Một quyết định của Hội đồng quản trị gây thiệt hại thì tất cả thành viên có phải bồi thường không?

Không thể mặc nhiên kết luận như vậy. Đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị trái pháp luật, nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc Điều lệ và gây thiệt hại cho công ty, Luật Doanh nghiệp đặt trách nhiệm liên đới lên các thành viên tán thành thông qua; thành viên phản đối quyết định đó được miễn trừ trách nhiệm theo trường hợp luật quy định.

Cổ đông công ty cổ phần có quyền kiện người quản lý không?

Có, khi đáp ứng điều kiện luật định. Theo Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong những trường hợp được điều luật quy định.

18/08/2026 08:41:29
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN