Đầu tư đúng cho tương lai

Điều khoản bất khả kháng là gì và quy định thế nào?

Điều khoản bất khả kháng xác định khi nào một sự kiện ngoài khả năng kiểm soát có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hợp đồng, đồng thời làm rõ nghĩa vụ chứng minh, thông báo, khắc phục và cách xử lý hợp đồng khi sự kiện kéo dài.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm được định nghĩa trực tiếp là “sự kiện bất khả kháng”, còn điều khoản bất khả kháng là nội dung do các bên xây dựng trong hợp đồng để xác định sự kiện nào được xem xét, điều kiện viện dẫn, thủ tục thông báo, chứng cứ và hậu quả đối với nghĩa vụ của mỗi bên. Bộ luật Dân sự 2015 xác định sự kiện bất khả kháng dựa trên ba yếu tố gắn với tính khách quan, khả năng dự liệu và khả năng khắc phục.
Điều khoản bất khả kháng là gì và quy định thế nào?

Vì vậy, điều khoản bất khả kháng không nên được hiểu đơn giản là một danh sách gồm bão, lũ, chiến tranh hay dịch bệnh. Giá trị thực tế của điều khoản nằm ở việc phân bổ rủi ro hợp đồng: khi sự kiện xảy ra, bên nào phải chứng minh, nghĩa vụ nào bị ảnh hưởng, thời gian thực hiện được xử lý ra sao và trong trường hợp nào một bên được miễn trách nhiệm đối với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ.

Điều khoản bất khả kháng là gì?

Điều khoản bất khả kháng là thỏa thuận trong hợp đồng nhằm thiết lập cơ chế xử lý khi một sự kiện đặc biệt, nằm ngoài diễn biến thông thường mà các bên dự kiến, cản trở việc thực hiện nghĩa vụ.

Cần phân biệt điều khoản bất khả kháng với sự kiện bất khả kháng. Điều khoản là quy tắc do các bên thỏa thuận; sự kiện là tình huống thực tế xảy ra. Một hợp đồng có thể quy định rất chi tiết về bất khả kháng nhưng bên viện dẫn vẫn phải chứng minh rằng tình huống thực tế thuộc phạm vi điều khoản hoặc đáp ứng các điều kiện pháp luật tương ứng.

Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, một sự kiện được xem là bất khả kháng khi nó xảy ra khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù chủ thể đã sử dụng những biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép. Ba yếu tố này tạo thành nền tảng pháp lý để đánh giá bản chất của sự kiện.

Điều khoản trong hợp đồng có vai trò cụ thể hóa nền tảng đó. Chẳng hạn, thay vì chỉ ghi “thiên tai là bất khả kháng”, hợp đồng có thể xác định cách chứng minh mức độ ảnh hưởng của thiên tai, thời hạn phải thông báo, nghĩa vụ tìm phương án thay thế, thời gian được gia hạn và quyền của các bên nếu tình trạng cản trở kéo dài.

Như vậy, điều khoản bất khả kháng không chỉ trả lời câu hỏi “chuyện gì đã xảy ra?” mà còn phải trả lời “sự kiện đó ảnh hưởng đến nghĩa vụ nào và hậu quả pháp lý được xử lý thế nào?”

Điều khoản bất khả kháng giúp phân định trách nhiệm khi xảy ra sự kiện ngoài kiểm soát

Khi nào một sự kiện được coi là bất khả kháng?

Pháp luật không xác định một danh sách đóng gồm những sự kiện luôn luôn là bất khả kháng. Thay vào đó, Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra các tiêu chí để đánh giá từng tình huống cụ thể.

Thứ nhất, sự kiện phải xảy ra một cách khách quan. Yếu tố gây cản trở không thể đơn thuần xuất phát từ quyết định chủ quan, sự tổ chức yếu kém hoặc lỗi quản trị của chính bên muốn viện dẫn bất khả kháng. Một doanh nghiệp thiếu nhân sự do tự cắt giảm lao động, chẳng hạn, có bản chất rất khác với việc cơ sở phải dừng hoạt động do một sự kiện khách quan ngoài khả năng chi phối.

Thứ hai, sự kiện phải không thể lường trước. Việc một tình huống gây khó khăn hoặc gây thiệt hại lớn chưa đủ để biến nó thành bất khả kháng. Nếu rủi ro đã có thể được dự liệu hợp lý trước khi xảy ra và bên có nghĩa vụ vẫn không có biện pháp chuẩn bị phù hợp, điều kiện về khả năng lường trước có thể trở thành điểm tranh luận.

Thứ ba, sự kiện phải không thể khắc phục mặc dù đã áp dụng những biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép. Đây là điều kiện đặc biệt quan trọng. Pháp luật không chỉ nhìn vào mức độ nghiêm trọng của sự kiện mà còn nhìn vào phản ứng của bên bị ảnh hưởng. Nếu vẫn tồn tại phương án hợp lý để thực hiện nghĩa vụ nhưng bên đó không sử dụng, việc viện dẫn bất khả kháng sẽ khó thuyết phục hơn.

Bên cạnh ba tiêu chí trên, khi bất khả kháng được dùng để giải thích việc vi phạm nghĩa vụ, cần có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện và việc không thực hiện đúng nghĩa vụ. Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự sử dụng cơ chế miễn trách nhiệm đối với trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện đúng do sự kiện bất khả kháng. Do đó, sự kiện xảy ra cùng thời điểm với vi phạm nhưng không thực sự gây ra vi phạm thì chưa đủ cơ sở để áp dụng cơ chế này.

Ví dụ, một trận bão lớn xảy ra tại địa phương không có nghĩa mọi nghĩa vụ của doanh nghiệp tại địa phương đó đều đương nhiên được miễn trách nhiệm. Nếu hệ thống sản xuất không bị ảnh hưởng và hàng hóa vẫn có thể vận chuyển bằng tuyến thay thế hợp lý, doanh nghiệp còn phải giải thích vì sao chính trận bão khiến nghĩa vụ cụ thể không thể được thực hiện đúng.

Bất khả kháng ảnh hưởng thế nào đến trách nhiệm dân sự?

Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì về nguyên tắc không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Quy định này cho thấy bất khả kháng trước hết là căn cứ liên quan đến trách nhiệm do vi phạm, chứ không đồng nghĩa mọi quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng lập tức chấm dứt. Sự kiện có thể chỉ làm một nghĩa vụ bị trì hoãn, chỉ ảnh hưởng một phần hợp đồng hoặc chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Cách xử lý nghĩa vụ sau đó còn phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, bản chất nghĩa vụ và quy định pháp luật áp dụng.

Điểm này giải thích vì sao một điều khoản bất khả kháng cần quy định rõ hậu quả thay vì chỉ liệt kê sự kiện. Hai bên có thể cần biết liệu nghĩa vụ bị ảnh hưởng sẽ được tạm hoãn, được gia hạn, phải thực hiện bằng phương án thay thế hay có thể dẫn đến chấm dứt hợp đồng sau một thời gian nhất định.

Một điểm khác cần lưu ý là không phải cứ có điều khoản bất khả kháng thì mọi trường hợp ghi trong điều khoản đều mặc nhiên trở thành “sự kiện bất khả kháng” theo định nghĩa của Điều 156. Trong quan hệ thương mại, Điều 294 Luật Thương mại còn thừa nhận riêng trường hợp miễn trách nhiệm do các bên đã thỏa thuận, bên cạnh trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Vì vậy, về kỹ thuật hợp đồng, cần phân biệt một sự kiện đáp ứng tiêu chuẩn bất khả kháng của pháp luật với một trường hợp miễn trách nhiệm khác do các bên chủ động thiết kế.

Sự phân biệt này rất quan trọng. Nếu hợp đồng quy định “biến động nguồn cung trên 30 ngày” là một trường hợp miễn trách nhiệm, cơ chế đó có thể cần được xem xét dựa trên chính thỏa thuận của các bên; nhưng không vì vậy mà mọi biến động nguồn cung đều đáp ứng ba điều kiện của sự kiện bất khả kháng theo Bộ luật Dân sự.

Hợp đồng thương mại xử lý bất khả kháng ra sao?

Đối với hoạt động thương mại, các Điều 294, 295 và 296 Luật Thương mại 2005 thiết lập cơ chế cụ thể hơn về miễn trách nhiệm, chứng minh, thông báo và thời hạn thực hiện hợp đồng khi xảy ra bất khả kháng.

Bên viện dẫn phải chứng minh căn cứ miễn trách nhiệm

Điều 294 xác định sự kiện bất khả kháng là một trong các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm và đồng thời đặt nghĩa vụ chứng minh lên bên viện dẫn trường hợp miễn trách nhiệm.

Điều đó có nghĩa một thông báo với nội dung “do bất khả kháng nên không thể giao hàng” thường chưa đủ về mặt chứng minh. Bên bị ảnh hưởng nên có tài liệu thể hiện sự kiện đã xảy ra, thời điểm và phạm vi tác động, nghĩa vụ bị ảnh hưởng, các biện pháp đã thực hiện để khắc phục và lý do những biện pháp đó vẫn không giúp nghĩa vụ được thực hiện đúng.

Cấu trúc chứng cứ càng rõ thì khả năng phân định trách nhiệm càng cao. Ngược lại, khi không xác định được sự kiện đã tác động trực tiếp đến nghĩa vụ nào, tranh chấp dễ chuyển từ việc xác định “có sự kiện hay không” sang câu hỏi khó hơn là “sự kiện có thực sự gây ra vi phạm hay không”.

Việc thông báo phải được thực hiện kịp thời

Điều 295 Luật Thương mại yêu cầu bên vi phạm thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên đó cũng phải thông báo; việc không thông báo hoặc thông báo không kịp thời có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sự chậm trễ này.

Vì vậy, điều khoản hợp đồng nên cụ thể hóa những vấn đề mà luật chỉ quy định ở mức nguyên tắc: thông báo bằng email hay văn bản giấy, gửi cho đầu mối nào, trong bao nhiêu ngày, phải kèm tài liệu gì và khi nào phải cập nhật tình hình.

Việc đặt một thời hạn cụ thể giúp giảm tranh luận về thế nào là “ngay”. Tuy nhiên, thời hạn quá cứng cũng có thể tạo rủi ro nếu chính sự kiện bất khả kháng làm hệ thống liên lạc bị gián đoạn. Một điều khoản cân bằng thường cần vừa đặt ra thời hạn, vừa dự liệu trường hợp việc thông báo trong thời hạn đó thực sự không thể thực hiện.

Thời hạn thực hiện hợp đồng có cơ chế riêng

Điều 296 Luật Thương mại cho phép các bên thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ khi xảy ra bất khả kháng. Nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, luật thiết lập cơ chế tính thêm thời gian tương ứng với thời gian xảy ra bất khả kháng cộng với khoảng thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả.

Luật đồng thời đặt giới hạn cho việc kéo dài này. Với hàng hóa hoặc dịch vụ có thời hạn giao hoặc cung ứng theo thỏa thuận không quá 12 tháng, thời gian kéo dài theo cơ chế luật định không quá 5 tháng; nếu thời hạn theo hợp đồng trên 12 tháng, giới hạn là 8 tháng. Khi vượt các giới hạn đó, luật quy định quyền từ chối tiếp tục thực hiện hợp đồng và cơ chế thông báo tương ứng. Quy tắc kéo dài nói trên không áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ.

Những mốc thời gian này cho thấy bất khả kháng trong hợp đồng thương mại không đồng nghĩa hợp đồng tự động chấm dứt ngay khi sự kiện phát sinh. Luật ưu tiên cơ chế xử lý việc thực hiện nghĩa vụ trong thời gian bị cản trở trước khi đi đến khả năng từ chối tiếp tục hợp đồng.

Điều khoản bất khả kháng nên phân định những nội dung nào?

Một điều khoản hiệu quả cần chuyển các nguyên tắc pháp lý thành quy trình đủ rõ để hai bên biết phải làm gì ngay khi sự kiện xảy ra. Mục tiêu không phải liệt kê càng nhiều tình huống càng tốt mà là giảm khoảng trống trong việc xác định trách nhiệm.

Phạm vi sự kiện và điều kiện áp dụng

Điều khoản có thể nêu các nhóm sự kiện điển hình như thiên tai nghiêm trọng, chiến tranh, bạo loạn, dịch bệnh, cấm vận hoặc những quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, danh sách nên đi kèm tiêu chí áp dụng, đặc biệt là mức độ nằm ngoài khả năng kiểm soát, khả năng dự liệu, khả năng khắc phục và ảnh hưởng thực tế đến nghĩa vụ. Cách thiết kế này phù hợp hơn với cấu trúc đánh giá của Điều 156 Bộ luật Dân sự.

Nếu các bên muốn một sự kiện được xem là trường hợp miễn trách nhiệm theo thỏa thuận dù không hoàn toàn trùng với định nghĩa bất khả kháng của pháp luật, nên thể hiện rõ cơ chế đó thay vì gọi tất cả các trường hợp là bất khả kháng. Trong hợp đồng thương mại, sự phân biệt này có cơ sở từ Điều 294, khi luật liệt kê riêng trường hợp miễn trách nhiệm do thỏa thuận và trường hợp bất khả kháng.

Mối quan hệ giữa sự kiện và nghĩa vụ bị ảnh hưởng

Điều khoản nên yêu cầu bên viện dẫn xác định nghĩa vụ nào không thể hoặc không thể đúng hạn thực hiện và mức độ tác động đến nghĩa vụ đó. Đây là cách ngăn tình trạng một sự kiện chỉ ảnh hưởng một phần hoạt động nhưng lại được sử dụng làm lý do đình hoãn toàn bộ hợp đồng.

Nếu một doanh nghiệp có năm nghĩa vụ độc lập mà sự kiện chỉ ngăn cản việc thực hiện một nghĩa vụ, phạm vi xử lý về nguyên tắc cần tập trung vào nghĩa vụ thực sự chịu tác động. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với yêu cầu phải chứng minh mối liên hệ giữa sự kiện và hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ.

Thông báo, chứng cứ và biện pháp khắc phục

Điều khoản nên xác định thời hạn thông báo, hình thức gửi, người nhận, nội dung tối thiểu của thông báo và loại chứng cứ có thể sử dụng. Đối với hợp đồng thương mại, việc quy định chi tiết còn giúp triển khai nghĩa vụ thông báo và chứng minh được đặt ra tại Điều 295 Luật Thương mại.

Bên cạnh đó, nên yêu cầu bên bị ảnh hưởng chủ động sử dụng những biện pháp hợp lý để khắc phục hoặc giảm mức độ cản trở. Đây không chỉ là vấn đề quản trị rủi ro; khả năng khắc phục chính là một thành tố trong định nghĩa bất khả kháng của Bộ luật Dân sự.

Hậu quả và thời điểm kết thúc cơ chế bất khả kháng

Điều khoản cần trả lời rõ trong thời gian sự kiện tồn tại thì nghĩa vụ được hoãn hay gia hạn, chi phí phát sinh do bên nào chịu, các nghĩa vụ không bị ảnh hưởng có tiếp tục thực hiện hay không và sau bao lâu một bên có thể yêu cầu chấm dứt hợp đồng.

Với hợp đồng thương mại, việc xây dựng cơ chế này cũng cần được đối chiếu Điều 296 Luật Thương mại, đặc biệt khi các bên muốn thỏa thuận thời hạn khác với cơ chế mặc định hoặc hợp đồng có thời điểm giao hàng, hoàn thành dịch vụ mang tính cố định.

Một điều khoản càng rõ về hậu quả thì càng giảm nguy cơ hai bên cùng thừa nhận đã xảy ra một sự kiện bất khả kháng nhưng vẫn tranh chấp về câu hỏi quan trọng hơn: ai phải chịu hậu quả kinh tế của thời gian gián đoạn đó.

Những nhầm lẫn thường gặp về bất khả kháng

Có tên trong hợp đồng không có nghĩa đương nhiên là bất khả kháng theo luật

Việc ghi “bão, lũ, dịch bệnh, chiến tranh” vào hợp đồng chưa tự nó chứng minh rằng mọi sự kiện thuộc các nhóm đó đều đáp ứng Điều 156 Bộ luật Dân sự. Khi viện dẫn khái niệm bất khả kháng theo pháp luật, vẫn cần xem xét tính khách quan, khả năng lường trước và khả năng khắc phục trong hoàn cảnh cụ thể.

Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại, các bên có thể thiết kế một trường hợp miễn trách nhiệm theo thỏa thuận bên cạnh căn cứ bất khả kháng. Do đó, khi giải thích hợp đồng cần xác định các bên đang dùng danh sách sự kiện để mô tả “bất khả kháng theo luật” hay đang tạo thêm một cơ chế miễn trách nhiệm bằng thỏa thuận.

Không có điều khoản bất khả kháng không đồng nghĩa hoàn toàn mất căn cứ pháp luật

Bộ luật Dân sự đã có quy định về việc không phải chịu trách nhiệm dân sự khi nghĩa vụ không được thực hiện đúng do sự kiện bất khả kháng, với ngoại lệ khi có thỏa thuận khác hoặc luật quy định khác. Trong thương mại, Điều 294 cũng liệt kê bất khả kháng là một trường hợp miễn trách nhiệm. Vì vậy, sự tồn tại của điều khoản hợp đồng không phải yếu tố duy nhất tạo ra khái niệm bất khả kháng.

Dù vậy, thiếu điều khoản cụ thể thường làm tăng khoảng trống về quy trình: bên bị ảnh hưởng phải thông báo trong bao lâu, chứng minh bằng tài liệu nào, nghĩa vụ được hoãn đến thời điểm nào và sự kiện kéo dài bao lâu thì hợp đồng được xử lý tiếp. Đây chính là giá trị thực tế của một điều khoản được soạn rõ.

Bất khả kháng không đồng nghĩa hợp đồng tự động chấm dứt

Trong hợp đồng thương mại, Điều 296 còn đặt ra cơ chế kéo dài thời hạn và chỉ sau những điều kiện nhất định mới phát sinh quyền từ chối tiếp tục thực hiện. Điều này cho thấy việc xảy ra bất khả kháng và việc chấm dứt hợp đồng là hai vấn đề cần được xem xét riêng.

Nếu các bên muốn hợp đồng tự động hoặc có quyền chấm dứt sau một khoảng thời gian bất khả kháng kéo dài, thời hạn và thủ tục đó nên được quy định rõ ngay trong hợp đồng, đồng thời phải phù hợp với pháp luật áp dụng.

Chi phí tăng cao chưa chắc là bất khả kháng

Một sự kiện khiến việc thực hiện hợp đồng trở nên đắt đỏ hoặc bất lợi không nhất thiết làm nghĩa vụ trở nên không thể thực hiện. Bộ luật Dân sự còn có một cơ chế khác tại Điều 420 dành cho hoàn cảnh thay đổi cơ bản, trong đó pháp luật xem xét những thay đổi khách quan, không thể lường trước, gây mất cân bằng nghiêm trọng và cho phép bên bị ảnh hưởng yêu cầu đàm phán lại hợp đồng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.

Vì vậy, trường hợp giá nguyên liệu tăng mạnh, chi phí vận tải tăng hoặc thị trường thay đổi cần được phân tích theo bản chất tác động. Nếu nghĩa vụ vẫn thực hiện được nhưng trở nên đặc biệt bất lợi, vấn đề có thể gần với hoàn cảnh thay đổi cơ bản hơn là bất khả kháng. Nếu sự kiện thực sự làm nghĩa vụ không thể được thực hiện và đồng thời đáp ứng các điều kiện của Điều 156, cơ chế bất khả kháng mới trở nên phù hợp hơn.

Điều khoản bất khả kháng là công cụ để các bên phân định trước trách nhiệm khi việc thực hiện hợp đồng bị cản trở bởi sự kiện đặc biệt. Theo pháp luật Việt Nam, trọng tâm không nằm ở tên gọi của sự kiện mà ở việc sự kiện có khách quan, không thể lường trước, không thể khắc phục bằng các biện pháp cần thiết và thực sự gây ra việc không thực hiện đúng nghĩa vụ hay không.

Một điều khoản được xây dựng tốt vì thế cần đi xa hơn danh sách “thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh”. Nó phải xác định điều kiện viện dẫn, phạm vi nghĩa vụ bị ảnh hưởng, chứng cứ, thông báo, biện pháp khắc phục, thời gian gia hạn và hậu quả khi sự kiện kéo dài. Đối với hợp đồng thương mại, các yêu cầu này còn cần được đặt trong cơ chế miễn trách nhiệm, thông báo và xử lý thời hạn tại Điều 294–296 Luật Thương mại.

Khi áp dụng vào một hợp đồng hoặc tranh chấp cụ thể, cần đối chiếu đồng thời nội dung điều khoản đã ký, loại hợp đồng, nguyên nhân thực tế của việc vi phạm và chứng cứ về các biện pháp đã thực hiện, thay vì chỉ dựa vào tên gọi của sự kiện.

05/09/2026 00:22:42
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN