Điều kiện chuyển nhượng cổ phần gồm những gì?
- Nguyên tắc chung về điều kiện chuyển nhượng cổ phần
- Cổ phần phổ thông thông thường có được tự do chuyển nhượng không?
- Cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần phải đáp ứng điều kiện gì?
- Điều lệ công ty có thể hạn chế chuyển nhượng cổ phần không?
- Cổ phần ưu đãi có điều kiện chuyển nhượng giống cổ phần phổ thông không?
- Việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng hình thức nào?
- Khi nào người nhận chuyển nhượng chính thức trở thành cổ đông?
- Trường hợp có nhà đầu tư nước ngoài cần kiểm tra thêm điều kiện nào?
- Cách xác định điều kiện chuyển nhượng cổ phần trong một trường hợp cụ thể
Theo Điều 127 Luật Doanh nghiệp, cổ phần được tự do chuyển nhượng, ngoại trừ trường hợp hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập và trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng. Bên cạnh đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết có cơ chế riêng: về nguyên tắc người sở hữu không được chuyển nhượng, trừ trường hợp luật cho phép.
Vì vậy, khi xác định một giao dịch có đáp ứng điều kiện chuyển nhượng cổ phần hay không, cần kiểm tra lần lượt: cổ phần thuộc loại nào, người chuyển nhượng có phải cổ đông sáng lập hay không, công ty đã hoạt động được bao lâu, Điều lệ có hạn chế chuyển nhượng hay không và người nhận đã được ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông hay chưa.
Nguyên tắc chung về điều kiện chuyển nhượng cổ phần
Cơ chế của công ty cổ phần được xây dựng trên nguyên tắc cổ phần có khả năng chuyển nhượng. Điều 115 Luật Doanh nghiệp ghi nhận cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác, nhưng đồng thời dẫn chiếu đến những trường hợp bị hạn chế theo luật và pháp luật có liên quan. Điều 127 tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc này.
Do đó, không nên hiểu “điều kiện chuyển nhượng” theo hướng mọi giao dịch đều phải xin phép công ty. Cách tiếp cận chính xác hơn là:
· Nguyên tắc: Cổ phần được tự do chuyển nhượng
· Ngoại lệ: Phải kiểm tra hạn chế do Luật Doanh nghiệp hoặc Điều lệ công ty đặt ra
· Loại cổ phần đặc biệt: Phải kiểm tra quy định riêng áp dụng cho loại cổ phần đó
· Hiệu lực đối với tư cách cổ đông: Người nhận cần được ghi đầy đủ thông tin vào sổ đăng ký cổ đông theo quy định
Luật Doanh nghiệp hiện hành cần được đọc trong trạng thái đã được sửa đổi, bổ sung. Luật số 76/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.

Cổ phần phổ thông thông thường có được tự do chuyển nhượng không?
Có. Đây là trường hợp thể hiện rõ nhất nguyên tắc tự do chuyển nhượng.
Nếu cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông không thuộc trường hợp bị hạn chế theo quy định đối với cổ đông sáng lập và không chịu một hạn chế chuyển nhượng hợp lệ khác, cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần cho người khác.
Điều này có nghĩa rằng không phải cứ chuyển nhượng cổ phần phổ thông là phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Yêu cầu chấp thuận chỉ phát sinh trong trường hợp pháp luật hoặc cơ chế hạn chế tương ứng đặt ra điều kiện đó.
Đây cũng là điểm cần phân biệt giữa quyền sở hữu cổ phần và điều kiện thực hiện việc chuyển nhượng: cổ đông có quyền định đoạt cổ phần, nhưng khi cổ phần đang thuộc một trường hợp hạn chế thì việc định đoạt phải tuân thủ giới hạn đó.
Cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần phải đáp ứng điều kiện gì?
Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập là trường hợp quan trọng nhất cần kiểm tra về thời gian và người nhận chuyển nhượng.
Theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp, trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập:
· Được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác
· Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận
· Cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết đối với việc chuyển nhượng cổ phần đó
Quy định này tạo ra hai tình huống khác nhau. Nếu bên nhận cũng là cổ đông sáng lập, giao dịch không chịu điều kiện chấp thuận nói trên. Nếu bên nhận là người ngoài nhóm cổ đông sáng lập, việc chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông trở thành điều kiện cần kiểm tra.
Không phải mọi cổ phần của cổ đông sáng lập đều bị hạn chế 03 năm
Đây là một điểm dễ nhầm.
Khoản 4 Điều 120 loại trừ khỏi hạn chế trên đối với:
· Cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp
· Cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập
Như vậy, không thể chỉ nhìn vào tư cách “cổ đông sáng lập” để kết luận toàn bộ cổ phần mà người đó sở hữu đều chịu cùng một hạn chế. Cần xác định nguồn gốc của số cổ phần cụ thể đang được chuyển nhượng.
Sau khi hết thời hạn 03 năm, hạn chế đặc thù tại khoản 3 Điều 120 không còn là căn cứ hạn chế số cổ phần đó; tuy nhiên vẫn cần kiểm tra Điều lệ công ty và các quy định pháp luật liên quan.
Điều lệ công ty có thể hạn chế chuyển nhượng cổ phần không?
Có, nhưng hạn chế trong Điều lệ không đương nhiên có hiệu lực chỉ vì Điều lệ có ghi nhận.
Khoản 1 Điều 127 quy định rằng nếu Điều lệ công ty đặt ra hạn chế đối với việc chuyển nhượng cổ phần thì quy định hạn chế đó chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.
Đây là một điều kiện quan trọng vì nó bảo đảm người sở hữu và người dự kiến nhận chuyển nhượng có thể nhận biết giới hạn gắn với cổ phần.
Do đó, trước một giao dịch cụ thể không nên chỉ kiểm tra Luật Doanh nghiệp. Cần đối chiếu đồng thời:
1. Loại cổ phần đang được chuyển nhượng
2. Điều lệ hiện hành của công ty
3. Nội dung thể hiện trên cổ phiếu của cổ phần tương ứng
4. Quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan nếu doanh nghiệp thuộc trường hợp đặc thù
Một điều khoản hạn chế trong Điều lệ vì thế cần được kiểm tra cả về nội dung lẫn điều kiện để hạn chế đó có hiệu lực đối với cổ phần tương ứng.
Cổ phần ưu đãi có điều kiện chuyển nhượng giống cổ phần phổ thông không?
Không thể áp dụng một quy tắc duy nhất cho tất cả cổ phần ưu đãi.
Luật Doanh nghiệp xác định ngoài cổ phần phổ thông, công ty có thể có cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần ưu đãi khác theo Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán.
Vì quyền gắn với từng loại cổ phần khác nhau, trước khi chuyển nhượng cần xác định chính xác loại cổ phần.
Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Đây là trường hợp có hạn chế rõ ràng.
Khoản 3 Điều 116 quy định cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác, ngoại trừ:
· Chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
· Thừa kế
Vì vậy, đây không phải trường hợp chỉ cần các bên đồng ý hoặc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận là có thể tự do chuyển nhượng. Hạn chế xuất phát trực tiếp từ pháp luật.
Cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại
Đối với các loại cổ phần này, Luật Doanh nghiệp quy định người sở hữu có các quyền như cổ đông phổ thông, ngoại trừ những quyền bị loại trừ cụ thể đối với từng loại cổ phần. Vì vậy, việc đánh giá khả năng chuyển nhượng phải tiếp tục đối chiếu Điều lệ công ty và các quy định pháp luật liên quan thay vì mặc nhiên áp dụng lệnh cấm chuyển nhượng của cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Điểm mấu chốt là “cổ phần ưu đãi” không phải một nhóm có điều kiện chuyển nhượng đồng nhất.
Việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng hình thức nào?
Điều 127 cho phép việc chuyển nhượng được thực hiện bằng:
· Hợp đồng
· Giao dịch trên thị trường chứng khoán
Nếu chuyển nhượng bằng hợp đồng, giấy tờ chuyển nhượng phải có chữ ký của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ.
Nếu thực hiện trên thị trường chứng khoán, trình tự và thủ tục chuyển nhượng tuân theo pháp luật về chứng khoán.
Sự phân biệt này quan trọng bởi “được quyền chuyển nhượng” và “chuyển nhượng đúng hình thức, thủ tục” là hai vấn đề khác nhau. Một cổ phần có thể thuộc loại được phép chuyển nhượng nhưng giao dịch vẫn cần được thực hiện theo đúng phương thức pháp luật áp dụng cho trường hợp đó.
Khi nào người nhận chuyển nhượng chính thức trở thành cổ đông?
Việc ký hợp đồng chuyển nhượng chưa phải là điểm cuối cùng khi xét tư cách cổ đông đối với công ty.
Khoản 6 Điều 127 quy định cá nhân, tổ chức nhận cổ phần trong các trường hợp tại Điều này chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm thông tin của họ theo khoản 2 Điều 122 được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông. Công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của cổ đông có liên quan trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy định tại Điều lệ công ty.
Vì vậy, sau khi hoàn tất giao dịch, việc cập nhật sổ đăng ký cổ đông có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác lập tư cách cổ đông của người nhận.
Đây cũng là lý do thực tế không nên dừng quy trình ở việc hai bên ký giấy chuyển nhượng và thanh toán. Hồ sơ nội bộ của công ty cần phản ánh sự thay đổi chủ sở hữu cổ phần.
Trường hợp có nhà đầu tư nước ngoài cần kiểm tra thêm điều kiện nào?
Quyền chuyển nhượng theo Luật Doanh nghiệp không loại trừ việc phải tuân thủ pháp luật chuyên ngành.
Ngay tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp, pháp luật xác định rằng nếu luật khác có quy định đặc thù liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp thì áp dụng quy định đặc thù đó.
Bởi vậy, khi người nhận cổ phần là nhà đầu tư nước ngoài, không nên chỉ kết luận giao dịch hợp lệ sau khi kiểm tra Điều 120 và Điều 127. Tùy doanh nghiệp và giao dịch, còn phải xác định các điều kiện tương ứng theo pháp luật về đầu tư và pháp luật chuyên ngành.
Cách kiểm tra này đặc biệt quan trọng khi việc nhận chuyển nhượng làm thay đổi tỷ lệ sở hữu nước ngoài hoặc liên quan đến doanh nghiệp hoạt động trong ngành, nghề có điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Cách xác định điều kiện chuyển nhượng cổ phần trong một trường hợp cụ thể
Một giao dịch chuyển nhượng có thể được kiểm tra theo trình tự sau:
1. Xác định loại cổ phần: Cổ phần phổ thông, ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại hay loại ưu đãi khác
2. Xác định người chuyển nhượng: Có phải cổ đông sáng lập hay không
3. Kiểm tra thời hạn 03 năm: Nếu là cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, xác định thời điểm công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
4. Xác định nguồn gốc cổ phần: Kiểm tra số cổ phần có thuộc trường hợp được loại trừ khỏi hạn chế của cổ đông sáng lập hay không
5. Kiểm tra Điều lệ và cổ phiếu: Xác định có hạn chế chuyển nhượng hợp lệ hay không
6. Kiểm tra người nhận: Xác định có điều kiện pháp lý riêng, đặc biệt trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài hoặc pháp luật chuyên ngành, hay không
7. Thực hiện đúng hình thức chuyển nhượng: Bằng hợp đồng hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán tùy trường hợp
8. Cập nhật sổ đăng ký cổ đông: Bảo đảm người nhận được ghi nhận đầy đủ để xác lập tư cách cổ đông
Trình tự này cho thấy điều kiện chuyển nhượng không chỉ phụ thuộc vào câu hỏi “cổ đông có muốn bán hay không”, mà phụ thuộc vào đặc tính pháp lý của chính số cổ phần và hoàn cảnh của giao dịch.
Điều kiện chuyển nhượng cổ phần về cơ bản xuất phát từ nguyên tắc cổ phần được tự do chuyển nhượng, sau đó mới kiểm tra các ngoại lệ. Ba nhóm cần đặc biệt lưu ý là cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm, cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng hợp lệ theo Điều lệ và cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Ngoài việc xác định cổ phần có được phép chuyển nhượng hay không, các bên còn phải thực hiện đúng hình thức giao dịch và hoàn tất việc ghi nhận người nhận vào sổ đăng ký cổ đông. Với doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành, điều kiện tương ứng của pháp luật đó cũng phải được kiểm tra trước khi kết luận giao dịch có thể thực hiện.
Hỏi đáp về điều kiện chuyển nhượng cổ phần
Cổ đông có được tự do chuyển nhượng cổ phần không?
Về nguyên tắc có. Điều 127 Luật Doanh nghiệp quy định cổ phần được tự do chuyển nhượng, ngoại trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đang chịu hạn chế theo khoản 3 Điều 120 và trường hợp Điều lệ công ty có hạn chế chuyển nhượng hợp lệ. Một số loại cổ phần như cổ phần ưu đãi biểu quyết còn chịu quy định riêng.
Cổ đông sáng lập có được bán cổ phần trong 3 năm đầu không?
Có, nhưng phải phân biệt người nhận. Trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông thuộc phạm vi hạn chế của cổ đông sáng lập được tự do chuyển cho cổ đông sáng lập khác; nếu chuyển cho người không phải cổ đông sáng lập thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.
Cổ phần ưu đãi biểu quyết có được chuyển nhượng không?
Về nguyên tắc không. Luật quy định người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thừa kế.
Ký hợp đồng chuyển nhượng xong thì người mua đã là cổ đông chưa?
Chưa nhất thiết. Theo Điều 127, người nhận cổ phần trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin theo luật định của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông.
