Những đối tượng nào không được quyền thành lập doanh nghiệp?
- 7 nhóm đối tượng không được thành lập và quản lý doanh nghiệp
- Vì sao cơ quan nhà nước không phải lúc nào cũng bị cấm tuyệt đối?
- Cán bộ, công chức, viên chức có còn bị cấm hoàn toàn không?
- Người trong quân đội, công an và doanh nghiệp nhà nước có ngoại lệ nào?
- Người chưa thành niên hoặc bị hạn chế năng lực có được đứng tên thành lập doanh nghiệp?
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự có được thành lập doanh nghiệp không?
- Không được thành lập doanh nghiệp có đồng nghĩa không được góp vốn?
Điểm quan trọng là phải xác định đúng tư cách của người hoặc tổ chức tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, bởi một người có năng lực dân sự đầy đủ nhưng đang giữ chức vụ, thuộc lực lượng hoặc đang ở trong tình trạng pháp lý mà Điều 17 liệt kê vẫn có thể không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.
7 nhóm đối tượng không được thành lập và quản lý doanh nghiệp
Theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, kết hợp với nội dung đã được Luật số 76/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung, các đối tượng không được thành lập doanh nghiệp có thể chia thành 7 nhóm chính.
1. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp nhằm thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
2. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
3. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ trường hợp được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước
4. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước thuộc trường hợp luật quy định, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác
5. Người chưa thành niên; người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân
6. Người đang thuộc một số tình trạng pháp lý đặc biệt, gồm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc, đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và các trường hợp khác theo Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng
7. Tổ chức là pháp nhân thương mại đang bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo Bộ luật Hình sự
Luật số 76/2025/QH15 đặc biệt sửa đổi điểm b và điểm e khoản 2 Điều 17. Vì vậy, khi áp dụng quy định hiện nay không nên chỉ dựa vào nguyên văn của Luật Doanh nghiệp 2020 trước khi sửa đổi.

Vì sao cơ quan nhà nước không phải lúc nào cũng bị cấm tuyệt đối?
Điểm a khoản 2 Điều 17 không quy định rằng mọi cơ quan nhà nước hoặc đơn vị lực lượng vũ trang đều bị cấm trong mọi hoàn cảnh. Yếu tố làm phát sinh hạn chế là sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp nhằm thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình.
Luật còn giải thích “thu lợi riêng” trong trường hợp này thông qua việc sử dụng thu nhập có được từ hoạt động kinh doanh, góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp vào các mục đích như chia cho những người thuộc diện luật quy định, bổ sung trái pháp luật vào ngân sách hoạt động hoặc lập quỹ, bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị.
Do đó, không nên rút gọn quy định thành nhận định “cơ quan nhà nước không được liên quan đến doanh nghiệp”. Điều luật giới hạn một hành vi cụ thể, gắn với nguồn tài sản nhà nước và mục đích thu lợi riêng.
Cán bộ, công chức, viên chức có còn bị cấm hoàn toàn không?
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi áp dụng pháp luật hiện hành.
Theo nội dung được sửa đổi bởi Luật số 76/2025/QH15, điểm b khoản 2 Điều 17 hiện quy định cán bộ, công chức, viên chức thuộc nhóm không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Như vậy, việc nói chung rằng “cán bộ, công chức, viên chức tuyệt đối không thể thành lập doanh nghiệp trong bất cứ trường hợp nào” không còn phản ánh đầy đủ nội dung của Điều 17 sau sửa đổi.
Ngoại lệ này cũng không có nghĩa mọi cán bộ, công chức, viên chức mặc nhiên được thành lập doanh nghiệp công nghệ. Việc có thuộc ngoại lệ hay không phải được xác định theo quy định pháp luật chuyên ngành tương ứng, chứ không chỉ dựa vào lĩnh vực kinh doanh mà người đó dự kiến đăng ký.
Người trong quân đội, công an và doanh nghiệp nhà nước có ngoại lệ nào?
Đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và những đối tượng thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân được Điều 17 liệt kê, nguyên tắc là không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, luật loại trừ trường hợp người đó được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước.
Cơ chế tương tự cũng xuất hiện đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước: người thuộc nhóm luật xác định bị hạn chế, nhưng trường hợp được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác được xử lý khác theo chính quy định của Điều 17.
Bản chất của các ngoại lệ này là phân biệt giữa việc một cá nhân tự mình tham gia kinh doanh vì lợi ích riêng với việc người đó thực hiện nhiệm vụ đại diện, quản lý vốn của Nhà nước theo thẩm quyền được giao.
Người chưa thành niên hoặc bị hạn chế năng lực có được đứng tên thành lập doanh nghiệp?
Khoản 2 Điều 17 xác định người chưa thành niên thuộc nhóm không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp. Quy định còn áp dụng đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Đồng thời, không chỉ cá nhân mới chịu giới hạn về tư cách. Tổ chức không có tư cách pháp nhân cũng nằm trong nhóm không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định này.
Vì vậy, việc có tài sản để góp vốn hoặc có nhu cầu kinh doanh không tự động tạo ra quyền đứng tên thành lập doanh nghiệp. Tư cách pháp lý của chủ thể là điều kiện phải được xem xét độc lập.
Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự có được thành lập doanh nghiệp không?
Không, nếu cá nhân đang thuộc một trong những tình trạng được điểm e khoản 2 Điều 17 quy định.
Sau sửa đổi năm 2025, nhóm này bao gồm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hay làm công việc nhất định. Điều luật còn dẫn chiếu đến các trường hợp khác theo Luật Phá sản và Luật Phòng, chống tham nhũng.
Điều này cho thấy không phải cứ từng bị xử lý hình sự là vĩnh viễn mất quyền thành lập doanh nghiệp. Cần kiểm tra tình trạng pháp lý hiện tại, nội dung bản án hoặc quyết định có hiệu lực và quy định chuyên ngành áp dụng cho từng trường hợp.
Đối với pháp nhân thương mại, hạn chế cũng có thể phát sinh khi tổ chức đang bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo Bộ luật Hình sự.
Không được thành lập doanh nghiệp có đồng nghĩa không được góp vốn?
Không. Đây là một trong những điểm dễ nhầm nhất khi đọc Điều 17.
Khoản 2 Điều 17 điều chỉnh quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, trong khi khoản 3 quy định riêng về quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp. Luật cho phép tổ chức, cá nhân thực hiện quyền góp vốn, mua cổ phần và phần vốn góp, trừ những nhóm bị loại trừ tại khoản 3.
Hai nhóm hạn chế vì thế không hoàn toàn đồng nhất.
Khoản 3 tập trung vào:
· Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
· Những đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và phòng, chống tham nhũng, có tính đến ngoại lệ mới liên quan đến pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Vì vậy, khi đánh giá một người có thể tham gia doanh nghiệp hay không, cần tách ít nhất hai câu hỏi: người đó có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp hay không; và người đó có quyền góp vốn, mua cổ phần hoặc mua phần vốn góp hay không. Không nên lấy kết luận của câu hỏi thứ nhất áp dụng tự động cho câu hỏi thứ hai.
Theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, có 7 nhóm chủ thể chính không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số nhóm có ngoại lệ cụ thể, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức sau sửa đổi của Luật số 76/2025/QH15 và những người được giao nhiệm vụ đại diện phần vốn nhà nước.
Khi xác định một cá nhân cụ thể có thuộc đối tượng không được thành lập doanh nghiệp hay không, cần kiểm tra đồng thời chức vụ, nghề nghiệp, năng lực hành vi, tình trạng tố tụng hoặc thi hành án, quyết định cấm của Tòa án và các luật chuyên ngành được Điều 17 dẫn chiếu. Đặc biệt, cần phân biệt quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp với quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, vì đây là những phạm vi pháp lý khác nhau.
Hỏi đáp về đối tượng không được thành lập doanh nghiệp
Công chức có được đứng tên thành lập công ty không?
Theo điểm b khoản 2 Điều 17 sau khi được sửa đổi năm 2025, cán bộ, công chức, viên chức về nguyên tắc thuộc nhóm không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện có ngoại lệ đối với trường hợp được thực hiện theo pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Người dưới 18 tuổi có được thành lập doanh nghiệp không?
Người chưa thành niên thuộc nhóm không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp.
Người đang bị tạm giam có được thành lập doanh nghiệp không?
Không. Người đang bị tạm giam thuộc một trong các trường hợp không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo điểm e khoản 2 Điều 17.
Không được thành lập doanh nghiệp thì có được mua cổ phần không?
Không thể kết luận chỉ từ việc một người không có quyền thành lập doanh nghiệp. Quyền góp vốn, mua cổ phần và mua phần vốn góp được khoản 3 Điều 17 điều chỉnh riêng và có nhóm đối tượng bị hạn chế riêng.
Quy định hiện hành có khác Luật Doanh nghiệp 2020 ban đầu không?
Có. Luật số 76/2025/QH15, ban hành ngày 17/06/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 17, trong đó có điểm b và điểm e khoản 2 liên quan trực tiếp đến các đối tượng bị hạn chế quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp.
